XƯƠNG RỒNG TRÊN CÁT

Nét tâm nhang gửi đến những người đã hi sinh và gia đình liệt sĩ nhân ngày 22/12

Chúng tôi- những thế hệ sinh ra trong thời bình, chỉ biết đến chiến tranh qua lời kể của cha chú, những thước phim tài liệu. Tuổi thơ chúng tôi không quá no đủ nhưng cũng không phải biết đến nằm hầm tránh bom hay chứng kiến sự ra đi không trở lại của người thân vì chiến tranh. Càng trân quý hòa bình của ngày hôm nay chúng tôi càng biết ơn sâu sắc những người đã hi sinh cho cuộc chiến, cả những mảnh đời giang dở còn lại bởi vết thương chiến tranh.

Cụ bà Võ Thị Mượn sinh năm 1930.Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất nghèo Vĩnh Thái, chiến tranh bom đạn và cái nghèo cũng không thể lấy đi sự mặn mà, nét duyên ngầm của bà khi còn trẻ. Năm 18 đôi mươi, bà lấy ông Trần Như Mó hơn bà 6 tuổi. Ngày ngày, ông đánh cá cho Hợp Tác Xã, bà trồng khoai sắn. Cuộc sống cứ thế trôi đi êm đềm. Đời sống khi đó còn khó khăn nhiều vì đất nước ta đang bị chia cắt, cả miền Bắc đang huy động sức người sức của cho cuộc chiến ở miền Nam. Mặc dù vậy, bằng sự chăm chỉ cần cù, ông bà vẫn đủ sức nuôi các con thơ. Hai ông bà hạnh phúc chứng kiến sự ra đời lần lượt của 4 đứa con . Năm 1965, đế quốc Mĩ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc. Để chống chiến tranh Phá hoại của Mĩ, miền Bắc trong đó có xã Vĩnh Thái đã thực hiện “quân sự hóa” toàn dân, ngày đêm hỗ trợ và phục vụ chiến đấu, khắc phục hậu quả của chiến tranh phá hoại đồng thời tích cực làm tốt nghĩa vụ hậu phương. Năm đó, lần lượt thanh niên trai tráng Vĩnh Thái quyết không chịu ngồi yên, xin được làm nhiệm vụ tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ.Ít người biết rằng, để “ chiến hạm” Cồn Cỏ- một trong những mục tiêu phá hoại của đế quốc Mĩ vững vàng giữa mưa bom bão đạn là nhờ những chiếc thuyền nan tiếp tế lương thực,đạn dược, vũ khí, nước ngọt từ đất liền ra. Những năm chiến tranh ác liệt ấy, biết bao người con Vĩnh Thái đã hi sinh thầm lặng khi làm nhiệm vụ tiếp tế cho đảo.

Năm ấy, ông Mó bà Mượn đã có 4 đứa con thơ. Đứa lớn nhất 9 tuổi, đứa nhỏ nhất mới ba tháng tuổi nhưng ông Mó vẫn xin Hợp Tác Xã cho đi tiếp tế. Nhiều người can ngăn vì con ông còn nhỏ quá nhưng ông bảo ông đã quyết cái gì rồi ông phải làm cho bằng được.Đội của ông có 7 thuyền, mỗi thuyền sáu người chèo. Thuyền ông đi có thằng Hợp trẻ nhất mới học xong lớp 7, rất hăng hái, nhiệt huyết trong nhiệm vụ cực kì khó khăn và nguy hiểm này. Tối hôm đó, sau khi cơm nước xong xuôi, ông Mó thấy bà màng Mượn đang ôm đứa con nhỏ trong lòng, mắt ầng ậc nước ngồi trên bậc cửa. Ông vừa mắng vừa đùa:

- Mạ Màng khi mô cũng dắt nác mắt, tau đi tiếp tế chơ có đi chết mô mạ mi lo. Coi thiên hạ họ đánh chắc ầm ầm ngoài tề, có ai khoóc mô!

- Thì đi như ri cũng nguy hiểm chơ ba mi nói như đi chợ á, rủi có gặp địch...

Bà Mượn chưa nói hết câu, ông Mẫn bố ông Mó từ sau hè bước vào gắt:

- Mạ Màng đừng có nói xui xẻo, cứ đi đi con, cha tra rồi không chèo xuồng được xa chơ cha mà có sức cha cũng đăng kí đi lâu rồi. Đất nước mình còn chiến tranh gian khổ, mình đánh khi mô cho thắng thì thôi!

Ông Mó nhẹ nhàng đến vỗ vai bà vợ trẻ, nở nụ cười trìu mến,cúi thơm má đứa con gái nhỏ đang ngủ ngon lành trên tay mẹ, ngẩng đầu lên định nói điều gì với vợ nhưng tự dằn lòng mình lại rồi thôi. Bà Mượn nhìn theo bóng chống khuất dần sau ngõ. Đêm ấy, đội ông Mó chèo thuyền vượt sóng tiến ra đảo từ một mũi đất ở Vịnh Mốc. Trên thuyền chở rất nhiều thứ thiết yếu như vũ khí, đạn, nước ngọt, cá khô, gạo, khoai sắn. Áng chừng chồng đã đi được một lức lâu nhưng bà Mượn vẫn không ngủ được, cứ ngồi ôm con. Bỗng có tiếng động ầm ầm từ phía biển vọng vào, bà Mượn giật mình thon thót, hoang mang sợ hải.Ông nội từ nhà trên chạy xuống, giọng nói như run lên:

- E bọn thằng Mó gặp nghuy rồi mạ Màng ơi, tau chạy ra coi răng đã!

Nói rồi ông mất hút trong bóng tối. Tiếng đạn bắn xa xa nghe như người ta “đâm cấu”. Những âm thanh đó dội vào lòng ngực bà Mượn như những nhát dao. Nhìn xuống thấy đứa con gái non nớt vẫn ngủ ngon lành như chưa hề có trận giao tranh quyết liệt đang diễn ra ngoài khơi xa ấy. Một lúc lâu sau, tiếng đạn ầm ầm bỗng im bặt, thay vào đó là sấm vọng vào. Một cơn dông ập tới. Ánh chớp sáng lòa, tiếng sấm rền vang như tiếng đạn cối bắn giữa không trung. Mưa như trút nước. Bà Mượn thấy lòng mình đang run lên, bà muốn chạy ra ngoài kia quá nhưng giấc ngủ của các con quấn lấy chân bà. Bỗng ông Mẫn từ ngoài lững thửng đi vào, người ông ướt sủng, ánh mắt vô hồn, bà Mượn hỏi dồn dập:

- Răng rồi cha? Cha chộ chi không cha? Cha Màng liệu có răng không cha?

Ông ngồi xuống bậc cửa, thở một hơi thật dài, mắt nhìn ra bóng tối:

- Bắn chắc dữ lắm con tề! Bọn hắn chưa ra đến nơi mô nhưng mà chắc là gặp phải địch, ở trong bại ni cũng nỏ chộ chi!

Bà Mượn ngồi khóc rúm ró, cố nén tiếng nấc kẻo làm dở giấc ngủ các con. Ông Mẫn đứng dậy, cố dấu ánh mắt đỏ hoe, thất thần.

Rồi những ngày sau đó, ngày nào bà Mượn cũng chạy ra bãi để ngóng. Càng ngóng càng chẳng thấy tăm hơi, chỉ có sóng biển cuộn lên như lòng của một người đàn bà trước biển khơi vô tận. Một ngày nọ, người trong làng nhặt được những tấm ván tấp vào bãi, thứ còn sót lại duy nhất của những chiếc thuyền nan tiếp tế. Từ đó, người ta không còn thấy bà Mượn xuống biển nữa. Biển đối với bà như một niềm đau. Bà không oán trách biển nhưng nơi đó là nơi dội vào lòng bà những tưởng tượng đau đớn về cái chết của chồng. Bà Mượn sống như một cái bóng, ngày ngày bà trồng khoai, trồng sắn nuôi con. Ông nội đã già, kể từ khi con mất lại càng yếu hơn, nhưng thương con dâu thương cháu, ông hay cắp rổ đi các thuyền xin cá. Mỗi bữa cơm, đứa con đầu bà Mượn múc ra chỉ đủ mỗi ông cháu lưng bát cơm, bà Mượn ăn sắn lát. Bữa ăn nào bà cũng chảy nước mắt, quá thương cha, thương các con bà quay mặt vào góc bếp giả vờ ăn ngon lành, chỉ thấy đôi vai nhỏ bé của bà lâu lâu lại run lên. Năm ấy, bà Mượn 33 tuổi.

Một hôm, bà Mượn đang cuốc đất trên ruộng, bà Triếc cắp nón lân la đến nói chuyện:

- Mạ Màng nì, tau thấy mi cực cách chi a, con cái nheo nhóc, cha già ốm yếu. Hay tau nói chuyện ni mi coi răng. Thằng Nơm cũng bằng tuổi mi mà chưa vợ con, hắn hơi đệc nhưng được cấy thiệt thà, mần ăn giỏi, mi coi đám nớ được không? Để con mi hắn có chỗ nương tựa mi nờ!

Bà Mượn nghe chưa hết câu đã bước dịch ra xa bà Triếc một chút:

- Tui cũng cũng biết con tui cực, nhưng tui thương dôông tui quá! Dôông tui chết mà không có lấy nắm đất để thắp hương, ả thấy rứa mà tui nở lòng dạ mô mà đi lấy chồng khác.Mạ con tui no đói có nhau, tui quyết không lấy ai nữa.- Vừa nói nước mắt bà rơi ướt cả khuôn mặt.

Bà Triếc định mở lời thêm nữa nhưng bà Mượn đã cắt ngang:

- Lần sau ả nói chuyện ni ra tui không nói lại với mô.

Nói rồi bà Mượn vác cuốc ra về. Bà Triếc nhìn theo cái dáng nhỏ bé nhưng tâm hồn rất gai góc đang bước thấp bước cao trên bờ ruộng của Mượn, bà thở dài bỏ ý nghĩ mai mối.

Năm 1972, sau hiệp định Pa-ri, Mĩ trả tù binh về cho Bắc Việt Nam. Những người trở về trong đó có vài người đi tiếp tế cùng chuyến với ông Mó, nhưng tuyệt nhiên trong đó không hề có ông Mó. Họ kể trong chuyến đi định mệnh ấy, tàu họ gần đến đảo thì gặp phải phục kích của địch. Chúng bắn như mưa vào đoàn thuyền vận tải, đội quân ông Mó chống trả quyết liệt, có bộ đội ta bắn từ trong đảo ra yểm trợ. Trời tối om như mực, chỉ có ánh đạn như chớp giật. Nhưng rồi vì không có kinh nghiệm chiến đấu thuyền họ bị đánh tan tành. Ông Mó và nhiều người khác hi sinh, một vài chiếc thuyền thoát được thì dạt vào vùng biển Cửa Việt, bị giặc bắt.

Những hi vọng le lói đâu đó trong tim bà Mượn cũng tắt dần theo thời gian. Bà như cây xương rồng sống ở miền cát trắng, vừa mãnh liệt, vừa gai góc. Xuân đến, đông qua, cây xương rồng ấy cũng nở hoa trắng muốt, tinh khiết đến lạ lùng. Nay đã ở tuổi 87 nhưng bà Mượn vẫn còn minh mẫn và khỏe mạnh. Bà có tới 20 đứa cháu lẫn chắt, mỗi lần kể chuyện về ông cho chúng nghe, ánh mắt bà lấp lánh tự hào. Đã nhiều năm trôi qua, nhưng cái hình ảnh ông Mó sải bước ra khỏi nhà đêm hôm ấy cứ ám ảnh, day dứt bà mãi không thôi.

Vĩnh Thái, ngày 20/12/2017

Quả Lê trắng